CHỦ NHIỆM ỦY BAN TƯ PHÁP LÊ THỊ THU BA: Nên thống nhất độ tuổi nhận làm con nuôi và không có ngoại lệ
Dự thảo Luật Nuôi con nuôi quy định đối tượng và độ tuổi được nhận làm con nuôi là 16 tuổi, nhưng có trường hợp đặc thù. Cụ thể trường hợp đặc biệt là người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể được nhận làm con nuôi có yếu tố nước ngoài theo diện đoàn tụ gia đình... Tôi thấy có mấy điểm cân nhắc. Nếu vì thực hiện Công ước Lahay về độ tuổi mà không tính đến đặc thù của Việt Nam thì tại sao không chọn luôn độ tuổi phù hợp với Công ước Lahay để áp dụng thống nhất? Còn nếu trong trường hợp vì đặc thù của Việt Nam, chọn độ tuổi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em (16 tuổi), là hợp lý. Nhưng Ban soạn thảo quy định về trường hợp đặc biệt thì tôi không biết đặc biệt là như thế nào? Vì trẻ em cho làm con nuôi đã là đặc biệt rồi, thường là không có người thân, phải gửi vào các trung tâm nuôi dạy trẻ. Vậy đặc biệt là như thế nào? Nếu chúng ta quy định như thế này rất dễ bị lợi dụng. Nhất là đối với người nhận con nuôi ở nước ngoài thì làm sao biết được có lợi dụng hay không? Nhân đây cũng nói luôn một ý là lâu nay, ở khu vực TP Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long, việc lợi dụng kết hôn để làm thủ tục xin ra nước ngoài rất nhiều. Thực tế có kết hôn đâu. Việc đó diễn ra rất phổ biến, họ giấu, mình nghe thông tin thì biết vậy. Trong trường hợp này, tôi e cũng là lợi dụng. Ngoài ra còn bị lợi dụng trong trường hợp trẻ em mất mẹ ruột và chỉ còn cha dượng. Nếu cha dượng nhận làm con nuôi thì làm sao kiểm soát được. Theo tôi nên thống nhất một độ tuổi nhận làm con nuôi là 16 và không có ngoại lệ.
Về nuôi con nuôi ở khu vực biên giới, đề nghị cân nhắc thêm thực tế. Vừa rồi, tôi đi 3 tỉnh biên giới phía Bắc để tìm hiểu vấn đề phòng, chống buôn bán người. Các cán bộ ở Đồn biên phòng hỏi tôi là bây giờ pháp luật có xử được tội mua bán trẻ em ở vùng biên giới không? Vì thực tế, hiện tượng này diễn ra khá phổ biến. Người dân sống ở những khu vực giáp biên, có khi ở trên địa phận hai nước, nhưng là họ hàng với nhau. Trong trường hợp một gia đình ở bên kia biên giới qua họ hàng hoặc người quen, muốn xin con ở bên này về nuôi. Khi xin con, họ không làm thủ tục pháp lý gì cả. Thực tế bản chất của sự việc là nhận con nuôi. Nếu xác định đây là trường hợp nhận nuôi con nuôi thì sẽ là nhận nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Điều này đồng nghĩa rằng, người cho và người nhận làm con nuôi sẽ phải gửi hồ sơ về Bộ Tư pháp... Ở những vùng cao biên giới có lẽ không ai làm thủ tục nhận con nuôi vì vừa phức tạp vừa tốn kém.
Đối với việc nuôi con nuôi ở khu vực biên giới, tôi nghĩ vẫn phải có quy định đặc thù, chứ nếu áp dụng chung như các khu vực khác thì pháp luật chưa tính tới thực tế của các vùng miền trên cả nước, cụ thể là khu vực biên giới.
Thực tế nếu Luật quy định mang tính nguyên tắc thì Chính phủ mới có thể hướng dẫn. Còn nếu không quy định thì điều luật khó đi vào cuộc sống, nhất là ở vùng biên giới. Thực tế cuộc sống đang đặt ra là có trường hợp, người dân hai nước ở khu vực biên giới thấy tiện thì cho con đi làm con nuôi mà không làm bất cứ thủ tục pháp lý gì. Trong trường hợp cơ quan chức năng phát hiện ra thì rõ ràng là phải xử lý hình sự.
Đề nghị nên quy định nguyên tắc vấn đề nuôi con nuôi ở khu vực biên giới và nên giao cho Chính phủ, một là có thỏa thuận với nước bạn, hai là phải có hướng dẫn đặc thù tùy theo khu vực biên giới. Có như vậy, Luật mới đi vào cuộc sống. Như thực tế tìm hiểu tại một số tỉnh biên giới phía Bắc vừa qua, thấy rằng, rõ ràng về khách quan là buôn bán trẻ em vì có nhận tiền, nhưng về chủ quan thì không phải vậy, họ chỉ cho con làm con nuôi thôi.
CHỦ NHIỆM UỶ BAN PHÁP LUẬT NGUYỄN VĂN THUẬN: Phải dứt khoát...
Xung quanh hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi, tôi rất trăn trở. Bộ Luật Dân sự hiện hành quy định một kiểu. Luật Hôn nhân và gia đình cũng không rõ. Có lẽ Luật Nuôi con nuôi cần cố gắng giải quyết triệt để hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi. Nếu xử lý được trọn vẹn thì mới quy định trong Luật.
Về nuôi con nuôi ở khu vực biên giới, tôi muốn phải dứt khoát. Lâu nay, chúng ta cứ nói đặc thù, nhưng thực sự không có đặc thù đâu. Đây là điểm khó, khó thì chúng ta nói là cần có đặc thù thôi. Quan điểm của tôi là đã là con nuôi trong nước thì theo đúng quy định pháp luật ở trong nước, còn có yếu tố nước ngoài thì phải áp dụng theo quy định pháp luật có yếu tố nước ngoài. Dứt khoát là như vậy.
CHỦ NHIỆM ỦY BAN KINH TẾ HÀ VĂN HIỀN: Tại sao lại đặt vấn đề nuôi con nuôi ở khu vực biên giới trong Luật?
Về nuôi con nuôi ở khu vực biên giới, tôi có suy nghĩ là không biết tại sao mình lại đặt vấn đề này trong Luật. Theo tôi, đã thuộc lãnh thổ Việt Nam thì việc nuôi con nuôi phải áp dụng một quy định pháp luật chung, còn nếu có yếu tố nước ngoài thì áp dụng quy định nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Thực tế hiện nay cũng có những xã ở vùng biên giới có đặc thù riêng như mối quan hệ gia đình ở khu vực hai bên đường biên và khó kiểm soát. Nhưng, Luật không nên khuyến khích việc này, vì sẽ rất khó quản lý. Phải bằng những định chế để hạn chế dần những trường hợp đang xảy ra trên thực tế. Không nên đưa việc nuôi con nuôi ở khu vực biên giới thành một điều, khoản trong Luật Nuôi con nuôi. Những trường hợp đang xảy ra trên thực tế, ta áp dụng theo quy định đối với việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Như vậy chính xác hơn.
TRƯỞNG BAN CÔNG TÁC ĐẠI BIỂU PHẠM MINH TUYÊN: Nếu không quy định chặt chẽ dễ bị lợi dụng
Về phí, lệ phí nuôi con nuôi, nếu không quy định thật chặt chẽ thì dễ bị lợi dụng. Vừa rồi một số cán bộ của Sở Tư pháp đã bị xử lý về vấn đề này. Luật Nuôi con nuôi phải quy định rất chặt chẽ về lệ phí, tránh tình trạng lợi dụng pháp luật để vụ lợi. Thực tế, đã có trường hợp lợi dụng vấn đề phí, lệ phí và làm méo mó chính sách rất nhân đạo của Nhà nước về nuôi con nuôi.
Về nuôi con nuôi ở khu vực biên giới, tôi tán thành với Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền và ý kiến của Ủy ban Pháp luật là chúng ta không đặt vấn đề này trong Luật Nuôi con nuôi. Nếu có yếu tố nước ngoài thì chúng ta áp dụng điều, khoản có yếu tố nước ngoài, còn nội bộ ở khu vực biên giới thì sẽ giải quyết như trường hợp nuôi con nuôi ở trong nước. Như thế sẽ chặt chẽ hơn. Và Luật chỉ cần quy định nguyên tắc về nuôi con nuôi ở khu vực biên giới để bảo đảm tính thống nhất về mặt luật pháp và sau này cũng không phải giải thích nhiều về vấn đề này.
Liên quan đến một số vấn đề khác về quản lý, tổ chức nuôi con nuôi và về việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài, tôi đồng ý với phương án 2, tức là không thành lập Hội đồng tư vấn. Quy định như vậy sẽ bảo đảm nguyên tắc quản lý hành chính nhà nước là mỗi cơ quan chịu trách nhiệm trước pháp luật về công việc được giao. Bởi, cơ quan này có đầy đủ tư cách pháp lý để thực hiện các công việc quản lý, tổ chức nuôi con nuôi. Trước đây, nhiều tổ chức nuôi con nuôi của các nước đã hoạt động ở nước ta và ta đã giao cho Sở Tư pháp làm đầu mối. Trước khi trình Chủ tịch UBND tỉnh ký, nếu cần có một Hội đồng tư vấn để giúp thẩm định thì Chủ tịch UBND tỉnh sẽ quyết định thành lập. Vậy nên, Luật không quy định vấn đề Hội đồng tư vấn. Nếu địa phương nào cần Hội đồng tư vấn thì thành lập để giúp việc theo nhiệm vụ. Tôi đề nghị, việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi nước ngoài sẽ giao cho Sở Tư pháp giúp Chủ tịch UBND tỉnh, còn việc thành lập Hội đồng tư vấn thì để Chủ tịch UBND tỉnh quyết định. Như thế vừa chặt chẽ về mặt nhà nước vừa bảo đảm tính thống nhất của quản lý nhà nước.